CỔNG THÔNG TIN & BỘ GIẢI PHÁP EGAP

TRUY XUẤT MINH BẠCH, QUẢN LÝ GIÁM SÁT & KẾT NỐI THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN VIỆT NAM

Chè xanh

Đặc điểm :
Chè xanh (trà xanh) là thức uống được ưa chuộng tại Việt Nam. Uống chè xanh mỗi ngày với lượng hợp lý sẽ giúp tăng cường sức khỏe, phòng chống một số loại bệnh và làm đẹp. Chè xanh cũng giúp con người có một tinh thần sảng khoái, cải thiện sức khỏe. Chè xanh có nhiều loại bởi các vùng nguyên liệu có thổ nhưỡng và khí hậu khác nhau.


Ưu điểm:

Các nhà khoa học đã chứng minh, trong trà xanh có chứa các dược chất tốt cho sức khỏe. Tác dụng của các dược chất với từng bệnh cụ thể như sau:

- Chất catechin: Tác dụng giảm nguy cơ gây ung thư, giảm kích thước khối u, giảm lượng đường trong máu, giảm cholesterol, diệt khuẩn, diệt virut cúm, chống hôi miệng.

- Chất cafein: Có tác dụng chống buồn ngủ, giảm mệt mỏi và lợi tiểu.

- Vitamin C: Tăng sức đề kháng, chống cúm.

- Vitamin nhóm B trợ giúp cho quá trình trao đổi cacbon hydrat của cơ thể.

- Chất flavonoid có tác dụng giảm huyết áp, tăng độ bền vững thành mạch.

- Chất chống oxi hóa mạnh: Bảo vệ các tế bào da. Nước chè tươi đặc còn có chất diệt khuẩn, sát trùng mạnh nên dùng để rửa mặt, trị mụn hiệu quả.

- Chất polysaccarides làm giảm đường máu, điều hòa huyết áp ở mức ổn định.

- Chất flouride chống sâu răng, bảo vệ răng miệng, viêm lợi.

Bên cạnh đó, hợp chất trong trà có hiệu quả tăng cường độ đàn hồi của cơ tim, giảm lượng mỡ trung tính và cholesterol trong máu. Trà xanh cũng có lợi cho việc tăng cường khả năng tình dục. Trong trà có chứa 20 – 30% hợp chất có thể ức chế và giết khuẩn, ngăn ngừa cơ quan sinh dục bị viêm. Hương vị trà có tác dụng hưng phấn thần kinh, chống mệt mỏi.



Quy trình canh tác

CHỌN GIỐNG

+ Trồng các giống chè đã được khảo nghiệm thích hợp vùng: 
- Vùng thấp (độ cao dưới 100m): Nhõn trồng cỏc giống chố chọn tạo trong nước như giống LDP1, LDP2, PH8, PH9, Các giống nhập nội từ Trung Quốc và giong Trung du chọn lọc.

- Vùng giữa: Phân vùng có độ cao 100 – 500m trồng các giống LDP1, LDP2 và Shan chọn lọc giâm cành. Phân vùng có độ cao 500 – 1000m trồng giống Shan chọn lọc, TRI777 giâm cành. 
- Vùng cao (hơn 1000m): Trồng giống Shan chọn lọc tại chỗ. 
+ Trồng chè bầu cây đảm bảo đúng tiêu chuẩn: 
Chè giâm cành: Cây sinh trưởng trong vườn ươm từ 8 – 10 tháng tuổi. Mầm cây cao từ 20cm trở lên, có 6 – 8 lá thật, đường kính mầm sát gốc từ 4 - 5 mm trở lên, vỏ phía gốc màu đỏ nâu, phía ngọn xanh thẫm. Lá chè to, dày, xanh đậm, bóng láng, không có nụ hoa.


Thời vụ và mật độ trồng

Thời vụ giâm cành: Phía Bắc tháng 1-2 và tháng 7-8; phía Nam tháng 2-3 và tháng 5-7. Thời vụ trồng bầu cây: Phía Bắc ttháng 1-3 và tháng 8-9; phía Nam tháng 2-4 và tháng 6-7 khi đất đủ ẩm. - Nơi dốc < 15> 15độ : Hàng cách hàng 1,2 – 1,3m, cây cách cây 0,3 – 0,4m.


làm đất và đào hố trống

Đất trồng chè phải được cày vùi phân xanh trước khi trồng ít nhất 1 tháng. Khi trồng thì bổ hố hay cày rạch sâu 20 – 25 cm theo rãnh hàng đã được đào để trồng bầu cây.


Bón phân lót

Bón lót trước khi trồng: Sau khi đào rãnh hàng xong bón lót phân hữu cơ 20 – 30 tấn/ha và 100 – 150 kg P2O5/ha, trộn phân vào đất trồng.


bắt đầu trồng cây

Trồng cây sau khi đã bỏ túi bầu. Đặt bầu vào hố hay rạch, lấp đất, nén đất đều xung quanh bầu, lấp phủ lớp đất tơi trên vết cắt hom 1 – 2 cm, đặt mầm cây theo một hướng xuôi chiều gió chính. Trồng xong tủ cỏ, rác 2 bên hàng chè hay hốc trồngdày 8 – 10 cm, rộng 20 – 30 cm mỗi bên. Loại cỏ, rác dùng để tủ là phần không có khả năng tái sinh.


Chăm sóc cây chè

Tưới nước: cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô, khi trái đang lớn và lúc quả sắp chín. Phòng trừ cỏ dại: Phủ gốc chè bằng cỏ, rác, cây phân xanh... để hạn chế cỏ dại; xới phá váng sau mỗi trận mưa to. Làm cỏ vụ xuân tháng 1-2 và vụ thu tháng 8-9, xới sạch toàn bộ diện tích một lần/vụ; một năm xới gốc 2-3 lần


Cắt tỉa tạo hình

- Đốn tạo hình: 
Lần 1: Khi chè 2 tuổi, đốn thân chính cách mặt đất 12 - 15 cm, đốn cành cách mặt đất 30 - 35 cm. 
Lần 2: Khi chè 3 tuổi đốn cành chính cách mặt đất 30 –35 cm, đốn cành tán cách mặt đất 40 –45 cm. 
- Đốn phớt: Hai năm đầu mỗi năm đốn trên vết đốn cũ 5 cm. Sau đó mỗi năm đốn cao thêm 3 cm, khi vết đốn dưới cùng cao 70cm so với mặt đất thì hàng năm chỉ đốn cao thêm 1cm so với vết đốn cũ. Tuyệt đối không cắt tỉa cành la, đảm bảo độ che phủ, khép tán trên nương. Đối với nương chè sinh trưởng yếu, tán lá thưa mỏng, có thể áp dụng chu kỳ đốn cách năm: Một năm đốn phớt như trên, một năm đốn sửa bằng tán chỉ cắt phần cành xanh.

- Đốn lửng: Những đồi chè đã được đốn phớt nhiều năm, vết đốn cao quá 90cm so với mặt đất, nhiều cành tăm hương, u bướu, búp nhỏ, năng suất giảm thì đốn lửng cách mặt đất 60 -65cm; hoặc chè năng suất khá nhưng cây cao quá cũng đốn lửng cách mặt đất 70 – 75 cm. Đốn đau: Những đồi chè được đốn lửng nhiều năm, cành nhiều mấu, cây sinh trưởng kém năng suất giảm rõ rệt thì đốn đau cách mặt đất 40 – 45cm. 4.5.5. 
- Đốn trẻ lại: Những nương chè già, cằn cỗi đã được đốn đau nhiều lần, năng suất giảm nghiêm trọng thì đốn trẻ lại cách mặt đất 10 – 25 cm. Thời vụ đốn: Từ giữa tháng 12 đến hết tháng 1. 
- Nơi thường bị sương muối đốn muộn hơn, đốn sau đợt sương muối nặng. 
- Đốn đau trước, đốn phớt sau. 
- Đốn tạo hình, chè con trước, đốn chè trưởng thành sau. Đối với vùng đảm bảo độ ẩm, hoặc có điều kiện chủ động tưới chè có thể đốn một phần diện tích vào tháng 4-5 sau đợt chè xuân góp phần rải vụ thu hoạch chè.


Bón phân

- Cuốc lật tòan bộ diện tích; đào rạch giữa hai hàng chè sâu 20 đến 25 cm, rộng 25 đến 30 cm trước khi đốn chè, ép xanh cành lá chè đốn hoặc chất xanh khác kết hợp bón phân hữu cơ 30 -35tấn/ha. .

- Kỹ thuật bón phân thúc: Hàng năm bón NPK theo tỷ lệ 3:1:1 với lượng phân 35N cho 1 tấn sản phẩm + 75kg MgSO4/ha. Số lần bón: 4 lần trong năm. Lần 1: Bón 30% NPK + 60% MgSO4 (Tháng 2) Lần 2: Bón 30% NPK + 40% MgSO4 (Tháng 5) Lần 3: Bón 25% NPK (Tháng 7) Lần 4: Bón 15% NPK (Tháng 9)


Thu hoạch và bảo quản

Hái tạo hình chè KTCB: 
- Đối với chè tuổi 1: Từ tháng 10, hái bấm ngọn những cây chè cao 60 cm trở lên. - Đối với chè 2 tuổi: Hái đọt trên những cây to khoẻ và cách mặt đất 50 cm trở lên. 
Hái tạo hình sau khi đốn: 
- Đối với chè đốn lần 1: Đợt hái đầu cách mặt đất 40 – 45 cm tạo thành mặt phẳng nghiêng theo sườn dốc. Đợt 2 hái đọt chừa 2 lá và lá cá.. 
- Đối với chè đốn lần 2: Đợt hái đầu cao hơn đốn lần 1 từ 25 - 30 cm, các đợt hái sau chừa bình thường như ở chè đốn lần 1. 
Hái chè kinh doanh: 
a) Hái đợt và 2 – 3 lá non ( Xác định theo tiêu chuẩn Nhà nước TCVN 1053 -71-1054-71) 
b) Thời vụ: 
Vụ xuân (tháng 3-4): Hái chừa 2 lá và lá cá, tạo tán bằng. Những đọt vượt cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá. 
Vụ hè thu (tháng 5-10) : Hái chừa 1 lá và lá cá, tạo tán bằng. Những đọt cao hơn mặt tán thì hái sát lá cá. 
Vụ thu đông (tháng 11-12): tháng 11 hái chừa lá cá, tháng 12 hái cả lá cá. 5.1.4.Hái chè trên nương đốn trẻ lại, đốn đau thì tiến hành như đối với chè kiến thiết cơ bản. 
Bảo quản: Chè bup tươi thu xong phải để nơi râm mát, bỏ trong sọt không nén chặt, không đựng trong bao kín, không để héo, lẫn bẩn với vật lạ, tạp chất va đưa đến nơi chế biến không quá 10 tiếng.


Rầy xanh

Mô tả:

Tên khoa học: Empoasca flavescens

- Cả rầy non và rầy trưởng thành tập trung ở phần búp lá non hút nhựa dọc gân lá khiến lá biến dạng cong queo, trên có các đốm nhỏ vàng. Ít nghiêm trọng hơn thì lá chè có màu tía. Nếu nặng lá ngắn hơn và khô nhất là trong điều kiện nắng  nóng lá bị khô từ đầu đến tận nách lá. Thiệt hại do rầy không chỉ bởi hút hết nhựa cây mà còn gây tổn thương tế bào khiến cây chậm lớn, còi cọc, giảm năng suất và chất lượng chè.

- Rầy xanh là loại côn trùng gây hại lớn cho chè ở nước ta. Với chè mới trồng, đặc biệt chè dưới 4 – 5 tháng tuổi rầy xanh có thể gây khô búp, cây sinh trưởng chậm, còi cọc thậm chí có thể làm chết cây. Với cây chè lớn hơn (thời kỳ định hình tạo tán) ít thiệt hại hơn.

...
Xem thêm

Bọ xít muỗi

Mô tả:

- Trưởng thành và  ấu trùng của bọ xít muỗi gây hại do hút nhựa cây ở những phần non (búp, lá và cành non): vết chích của bọ xít muỗi làm thành các vết sậm màu sau đó chuyển màu đen. Trưởng thành gây nên vết chích lớn và thưa, ngược lại ấu trùng vết chích nhỏ và dày hơn. Búp và lá chè non bị mất nhựa và biến dạng cong queo, khô và đen làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất trà.

- Thiệt hại nghiêm trọng nhất của bọ xít muỗi là làm lá chuyển từ màu xanh tối và cây còi cọc. Thường ban đầu bọ xít muỗi phát sinh chỉ với diện tích nhỏ, sau đó lan rộng khắp ruộng khiến ruộng trông giống hiện tượng da beo

- Do sức ăn mạnh nên bọ xít muỗi gây thiệt hại lớn cho chè (Bọ xít muỗi non tuy nhỏ song do sống tập trung ở ngọn ít di chuyển nên gây thiệt hại lớn hơn trưởng thành).

...
Xem thêm

Bệnh tắc rễ

Mô tả:

- Cây chuyển vàng. Cành khô, lá úa vàng, xuất hiện các sợi giống như sợi tóc trên thân, cành thường,  từ dưới đất lên. Cây chè chết từng chòm nếu bị bệnh nặng.

- Nấm gây bệnh Marasmius equicrinis, sợi nấm bện vào nhau tạo thành sợi đen, cứng như lông ngựa. Người ta gọi đó là bệnh tóc đen. Các sợi nấm này leo từ cành này sang cành khác và từ cây này sang cây khác.

...
Xem thêm